Sau khi có đề cương sơ bộ, người nghiên cứu tiếp tục thu thập, xem xét lại tài liệu, điều chỉnh câu hỏi nghiên cứu và xây dựng đề cương nghiên cứu chi tiết. Chương này giới thiệu những hiểu biết và kỹ năng cần có trong quá trình xem xét lại tài liệu và xây dựng một bản đề cương nghiên cứu chi tiết.
1. Xem xét lại tài liệu, tổng quan nghiên cứu (Literature Review)
Trước khi tiến hành xem xét, đánh giá lại tài liệu (literature review), người nghiên cứu cần xác định một tiêu đề tạm thời cho công trình nghiên cứu. Tiêu đề tạm thời, dù chưa hoàn hảo, chưa được đánh bóng, song là bảng chỉ đường cho kế hoạch nghiên cứu, vì thế có thể gọi là tiêu đề để làm việc (working title). Không nên cố diễn đạt tiêu đề tạm thời bằng ngôn ngữ quá phức tạp và uyên bác. Ngược lại, để làm việc, hãy đặt tạm một tiêu đề ngắn gọn, rõ ý, dễ đọc, dễ hiểu, và cố gắng thẳng thắn, ví dụ: liệu có nên quy định về việc Tổng Bí thư đồng thời giữ chức Chủ tịch nước, liệu có nên đồng nhất Bí thư Đảng và thủ trưởng đơn vị ở các đơn vị sự nghiệp vào một cá nhân, hoặc: liệu có nên cho phép thị dân được bầu trực tiếp Thị trưởng trong mô hình chính quyền đô thị tự quản. Tiêu đề có thể là một nhan đề đơn (single title), ví dụ: Liệu có nên hạn chế số lượng công ty mà một cá nhân có thể tham gia vào hội đồng quản trị? Tiêu đề cũng có thể là một nhan đề kép (double title), ví dụ: Ban Kiểm soát trong quản trị công ty ở Việt Nam: Một nghiên cứu so sánh với hội đồng giám sự trong quản trị công ty ở Trung Quốc.
Mục đích của xem xét lại tài liệu giúp cho người đọc hiểu được kết quả của các công trình khác liên quan như thế nào đối với đề tài sẽ được nghiên cứu, chỉ rõ các lỗ hổng, hạn chế hay khiếm khuyết của các công trình đã công bố, từ đó giới thiệu được nhu cầu tiếp tục nghiên cứu, đóng góp mới, sự kế thừa và mở rộng cũng như ý nghĩa của công trình dự kiến nghiên cứu. Đối với một luận văn thạc sĩ, đánh giá xem xét lại tài liệu đã công bố thường giúp nhận biết và xây dựng một khung lý thuyết chắc chắn cho bài nghiên cứu. Ngược lại, đối với một luận án tiến sĩ, xem xét lại tài liệu nghiên cứu mở ra một cuộc đối thoại quy mô lớn hơn với các công trình đã công bố, từ đó xây dựng các giả thuyết khoa học cần được kiểm định trong luận án. Vì lẽ ấy, trong các luận án tiến sĩ, xem xét tài liệu đã công bố thường được viết thành một chương riêng biệt.
2. Chuẩn bị nguồn tài liệu cho một nghiên cứu pháp luật
Nếu tiến hành nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu học thuyết pháp lý, các nguồn tài liệu cho một nghiên cứu pháp luật ở VN thường bao gồm:
Hiểu rõ Thuật ngữ pháp lý
- Các giáo trình giảng dạy pháp l uật, từ điển luật học, từ điển thuật ngữ pháp lý (một số từ điển thuật ngữ pháp lý có cả ở dạng online, ví dụ Black's Law Dictionary.
- Bình luận khoa học về các đạo luật đã được ban hành (ví dụ: Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự). Các sách này giúp xác định nội hàm của thuật ngữ pháp lý.
- Lưu ý: chỉ khi thuật ngữ không được định nghĩa trong từ điển pháp lý, mới nên dùng các từ điển ngôn ngữ, thuật ngữ pháp lý thường có gốc Hán Việt, nên tra cứu thêm từ điển Hán Việt.
Văn bản pháp luật
- Quy định pháp luật hiện hành của chính quyền trung ương, chính quyền địa phương; các nguồn quy định khác không phải là VBQPPL, ví dụ tập quán (xem thêm: Incoterms, UCP) được nhà nước công nhận và cho thi hành. - Các quy định đã hết hiệu lực, đã được sửa đổi, bổ sung, diễn tiến quá trình thay đổi pháp luật.
- Kinh nghiệm lập pháp nước ngoài, quy định và án lệ nước ngoài, quy định mẫu của các tổ chức quốc tế có liên quan.
- Các tờ trình của Chính phủ, các báo cáo thẩm định cơ cơ quan tư pháp, báo cáo thẩm tra của các ủy ban Quốc hội, các bản đánh giá tác động dự án luật khi được trình.
- Các văn bản pháp luật đã được hủy bỏ, sửa đổi, các sáng kiến pháp luật, dự thảo đang được trình.
- Các kiến nghị sửa đổi pháp luật của các tác nhân có liên quan (hiệp hội, đại biểu dân cử, báo chí). Công trình nghiên cứu của các viện nghiên cứu trực thuộc TANDTC, Viện KSNDTC, các bộ
- Bài nghiên cứu công bố trên tạp chí trong nước liên quan đến ngành luật.
- Tạp chí liên quan đến ngành luật ở nước ngoài và quốc tế; công bố của tổ chức nghiên cứu quốc tế, các hiệp hội và think tank (tổ chức nghiên cứu tư nhân ở các quốc gia phát triển).
- Sách tham khảo, chuyên khảo, công trình khác.
- Kỷ yếu hội thảo khoa học trong và ngoài nước.
- Luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp được công bố bởi các cơ sở nghiên cứu, đào tạo luật.
Bản án
- Bản án, hồ sơ tài liệu liên quan đến bản án, hướng dẫn tổng kết hoạt động xét xử được công bố bởi Tòa án.
- Tuyển tập bản án, phán quyết của các Hội đồng Trọng tài và bình luận của của các nhà nghiên cứu.
3. Các bước tiến hành xem xét tài liệu:
Theo J.W. Creswell, trong khoa học xã hội và nhân văn nói chung, việc xem xét tài liệu có thể được tiến hành theo 7 bước dưới đây.
Bước 1 - Xác định từ khóa (từ khóa có thể có sẵn trong Đề tài, công trình đã công bố, cũng có thể do người nghiên cứu tự xác định).
Bước 2 - Với từ khóa đã xác định, hãy lập danh mục các công trình đã công bố liên quan đến từ khóa này.
Bước 3 - Xác định khoảng 50 tài liệu (sách, bài tạp chí đã công bố) có liên quan đến từ khóa đã xác định. (Lưu ý: ghi chú khả năng tiếp cận từng tư liệu).
Bước 4 - Đọc lướt các chương sách có liên quan, các bài báo để từ đó xác định tài liệu nào là quan trọng cần sao chụp để lưu, cố gắng tóm tắt để có
Bước 5 - Sau khi đọc lướt, nên thiết kế một bản đồ tài liệu như một ghi nhận trực quan về tài liệu nghiên cứu.
Bước 6 - Bắt đầu ghi chép bản tóm tắt và những đánh giá ban đầu về những công trình quan trọng nhất đã đọc. (Lưu ý: ghi đầy đủ để minh chứng trong Danh mục tài liệu tham khảo sau này).
Bước 7 - Tập hợp các bản tóm tắt tư liệu, sắp xếp chúng theo nội dung chủ đề hoặc một tiêu chí phù hợp khác. Ghi lại tóm tắt những đóng góp của các công trình đã công bố và xác định những vấn đề cần xác minh lại, nghiên cứu mở rộng hay những hạn chế cần được nghiên cứu thêm.
Khi xem xét tài liệu, thứ tự ưu tiên khi xem xét lại tài liệu pháp luật: Trong số tài liệu đã thu thập, cần xác định một thứ tự ưu tiên để xem xét đánh giá. Các tiêu chí xác định ưu tiên có thể khác nhau, song có thể xem xét những điều sau đây:
- Thứ nhất, với thuật ngữ pháp lý, cần ưu tiên các định nghĩa được quy định trong VBQPPL, ưu tiên luật chuyên ngành trước luật chung, nếu không có định nghĩa trong VBQPPL mới dùng định nghĩa của từ điển thuật ngữ luật học hoặc các sách bình luận khoa học.
- Thứ hai, với số liệu, cần ưu tiên số liệu chính thức của cơ quan nhà nước, sau đó mới sử dụng số liệu của các cơ quan nghiên cứu, tổ chức xã hội, tổ chức thương mại và báo chí.
- Thứ ba, với sách tham khảo cần ưu tiên các chuyên khảo (monography) về một chủ đề chuyên sâu trước, sau đó mới xét tới sách tham khảo có một vài chương liên quan đến chủ đề nghiên cứu, cuối cùng là tư liệu khác với đóng góp của nhiều tác giả.
- Thứ tư, ưu tiên các tạp chí chuyên ngành có phản biện độc lập, được thừa nhận rộng rãi trong giới nghiên cứu toàn quốc trước, sau đó mới tới các tạp chí, chuyên san, báo chí của ngành, hiệp hội, địa phương.
- Thứ năm, ưu tiên các bài viết trong kỷ yếu hội thảo chuyên ngành mới nhất, liên hệ với các tác giả và trao đổi với họ, xin trợ giúp hoặc được sử dụng tư liệu của họ.
- Thứ sáu, nên thận trọng khi sử dụng các khóa luận, luận văn và luận án, rất nên thận trọng khi sử dụng thông tin từ Internet, nhất là các thông tin thiếu kiểm chứng. Nếu cần tin từ các Websites, ưu tiên trang chủ của các cơ quan chính phủ, sau đó tới cơ quan nghiên cứu, các hãng thông tấn, báo chí, và cuối cùng là các trang thương mại hoặc cá nhân.
. Bản đồ tài liệu: Sau khi thu thập, đọc sơ bộ, để ghi nhận lại tóm tắt nội dung các tài liệu đã đọc và chỉ rõ chúng có mối liên quan gì đối với đề tài cần nghiên cứu, có thể xây dựng một bản đồ tài liệu nghiên cứu (literature map of research). Thực chất, đó là một tóm tắt trực quan những ghi chép ở trên. Tùy theo khả năng sáng tạo cá nhân, mỗi người nghiên cứu có những cách thể hiện riêng bản đồ tài liệu cho nghiên cứu của mình. Dưới đây là một ví dụ:
Tiêu đề tạm thời
Ví dụ: Có nên ghi ngành nghề vào Giấy chứng nhận ĐKDN hay không?
Vấn đề cần nghiên cứu
Ví dụ: Nếu không ghi ngành nghề vào Giấy chứng nhận ĐKDN sẽ xuất hiện những rủi ro pháp lý gì, rủi ro cho ai, cần quản lý những rủi ro này như thế nào?
Một cách tóm tắt tài liệu: Sau khi đọc từng tài liệu, người nghiên cứu nên ghi lại những nhận xét tóm tắt, khoảng 10-15 dòng, nội dung tóm tắt có thể như sau:
- Nguồn: Tên tác giả, tên tác phẩm, nguồn công bố, nơi công bố, năm công bố, số trang chi tiết (lưu ý cách trích dẫn tài liệu theo yêu cầu của từng cơ sở đào tạo hoặc từng tạp chí, nơi dự kiến công bố công trình nghiên cứu).
- Chủ đề: Trọng tâm nghiên cứu của công trình đó (khái quát lại thành một đến hai câu).
- Kết quả: Tóm tắt các kết luận chính, cách nhận diện và giải quyết vấn đề, các đóng góp nổi bật của bài nghiên cứu này.
Giới hạn: Trình bày giới hạn của công trình này, điểm chưa đúng, điểm sai lầm trong cấu trúc, lập luận, nhận định hoặc kiến nghị, kể cả sai lầm trong phương pháp luận.
Cụ thể:
a). Tóm tắt bài nghiên cứu trên tạp chí ngành luật: Ngoài những thông tin nêu trên, khi tóm tắt một bài nghiên cứu trên tạp chí ngành luật, cần lưu tâm thêm những câu hỏi sau: từ khóa mà tác giả đã chọn là gì? Phương pháp luận được chọn là gì, có phù hợp với bài nghiên cứu hay không? Các lập luận, biện luận được đưa ra như thế nào, có đủ bằng chứng và lý lẽ thuyết phục chưa? Bài có dùng dữ liệu của tác giả khác không, dùng như thế nào, công nhận hay phản bác? Bài có tính mới, có đóng góp mới không, có đáng tin cậy hay không? hệ nhận thức trong bài nghiên cứu đã phù hợp hay chưa?
b). Tóm tắt bình luận khoa học: Khi ghi chép tóm tắt các bình luận khoa học trong ngành luật, có thể cần lưu ý thêm các câu hỏi sau: tác giả có uy tín trong ngành hay không? Các bình luận của họ có thiên về một nhóm lợi ích nào hay không? Luận điểm của họ là gì, họ khẳng định và chứng minh điều gì? Họ có đưa ra kiến nghị cụ thể gì không? anh/chị thấy ý kiến của họ ra sao, ý kiến đó có liên quan gì đến dự kiến nghiên cứu hay không?
c). Tóm tắt bản án: Khi tóm tắt một bản án của Tòa án, một phán quyết trọng tài, cần ghi chú thêm: tên Tòa án cụ thể đã ra phán quyết; ký hiệu bản án, ngày ban hành, hội đồng xét xử đã ban hành bản án; nguyên đơn và bị đơn, các đại diện, người tham gia tố tụng khác; sự kiện, tình tiết của vụ án; các vấn đề pháp lý gây tranh luận trong vụ án; nhận định của Tòa án về sự kiện pháp lý; nhận định của Tòa án về vấn đề pháp lý; phán quyết của Tòa án; giá trị tạo ra án lệ của bản án, tính khái quát và khả năng thay đổi, giải thích pháp luật của bản án; bản án có khả năng đóng góp gì cho học thuyết pháp lý và phát triển pháp luật nói chung.
d). Tóm tắt khi đọc VBQPPL: Khi đọc một VBQPPL, cần ghi chép lại: tên văn bản, số hiệu văn bản; cơ quan ban hành, ngày ban hành, ngày công bố, ngày có hiệu lực; văn bản được sửa đổi, bổ sung hay thay thế; đối tượng điều chỉnh; những chính sách pháp luật chính, các điểm mới so với các quy định trước đây; các lưu ý trong triển khai thực hiện luật; chế tài cho hành vi vi phạm; lưu ý tới các cải cách pháp luật dự kiến sẽ tiếp tục diễn ra sau khi ban hành VBQPPL này.
4. Viết phần tóm tắt tài liệu:
Nếu công trình nghiên cứu cần tới một phần tóm tắt tài liệu nghiên cứu riêng, ví dụ trong các luận án tiến sĩ, phần viết này nên được cấu trúc như sau: Giới thiệu: cần bắt đầu trình bày cho người đọc hiểu vì sao cần tới phần tóm tắt tài liệu nghiên cứu, phần này được cấu trúc theo những mục, tiểu mục nào, ví dụ theo tiêu chí nội dung, cần viết dễ hiểu sao cho người đọc có thể theo dõi được cách suy nghĩ của người nghiên cứu. Ví dụ, về chủ đề liệu có nên ghi ngành nghề kinh doanh vào Giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp hay không, có thể tóm tắt tài liệu nghiên cứu thành 5 chủ đề nhỏ: mục đích, ý nghĩa pháp lý của việc đăng ký kinh doanh; thực tiễn cải cách đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp năm 2020; các trục trặc phát sinh trong quá trình đăng ký kinh doanh; kinh nghiệm quốc tế và nhu cầu cải cách pháp luật về đăng ký kinh doanh; đánh giá những kiến nghị cải cách pháp luật về đăng ký kinh doanh.
Về nội dung thứ nhất, điểm tên các công trình nghiên cứu đã công bố, họ đã nhận diện được ý nghĩa khai sinh ra doanh nghiệp của hành vi đăng ký kinh doanh, hành vi này khác nhau giữa công ty đối nhân và đối vốn ra sao, có thể phân chia thành hành vi đăng ký có tính chất khai sinh pháp nhân và hành vi đăng ký danh nghĩa như thế nào. Các công trình này đã đóng góp gì cho luật học, những nội dung gì chưa được nghiên cứu, ví dụ ví dụ sao đăng ký kinh doanh ở các nước được thực hiện bởi tòa án, bởi cơ quan chuyên trách, còn ở VN lại thuộc về phòng đăng ký kinh doanh thuộc các sở Kế hoạch & Đầu tư.
Về nội dung thứ hai, thứ ba, thứ tư..., cũng tiến hành như trên, điểm tên các tác phẩm, đánh giá nội dung, thành tựu của chúng, cũng như chỉ ra giới hạn, khiếm khuyết hoặc sai lầm của những công trình này.
Cuối cùng, phần kết luận nêu bật thành tựu chính của các công trình nghiên cứu đã công bố và gợi ý vì sao tiếp tục phải nghiên cứu rộng hơn, sâu hơn để giải quyết những vấn đề cụ thể gì đang được bỏ ngỏ hoặc chưa được nhận diện đúng.
5. Hoàn chỉnh đề cương sơ bộ và diễn đạt lại đề tài nghiên cứu
a) Nhìn lại toàn cảnh: Từ khi có ý tưởng, cho tới khi hoàn thành đề cương sơ bộ, nghiên cứu tài liệu đã công bố để hoàn thành bản đề cương nghiên cứu chi tiết cần một thời gian đáng kể, đối với một nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ luật quá trình này có thể kéo dài hàng năm, chiếm từ 1/4 thậm chí cho đến 1/2 toàn bộ thời gian nghiên cứu. Trong quá trình đó, người nghiên cứu thu thập, đánh giá dữ liệu, tìm ra vấn đề và câu hỏi nghiên cứu cũng như xây dựng các giả thuyết khoa học cần được kiểm định.
b). Rà soát tính mới của đề tài: Sau quá trình xem xét lại tài liệu, người nghiên cứu cần khẳng định vấn đề mình dự kiến nghiên cứu có tính cá biệt/tính mới hay không, có đóng góp thêm cho khoa học pháp lý hay không. Một đề tài không có tính cá biệt, không đóng góp được gì thêm cho khoa học pháp lý thì không cần tiến hành nghiên cứu.
c). Tính mới trong nghiên cứu pháp luật: Tuy vậy, rất khó xác định tính mới trong các nghiên cứu luật học. Khác với khoa học tự nhiên, pháp luật là những khuôn mẫu ứng xử hình thành qua thời gian. Các học thuyết pháp lý thường cũng không được một người phát minh ra, mà được thừa nhận một cách rộng rãi như là trí tuệ, giá trị chung của các cộng đồng người. Một đạo luật thường hình thành sau một quá trình lập pháp cẩn trọng, ghi nhận, thâu gom vô số các thảo luận trong xã hội. Cũng như mọi thể chế xã hội khác, phát triển pháp luật thường là kết quả của những thay đổi xã hội có tính chất lâu dài. Trong bối cảnh ấy, các nghiên cứu pháp luật thường không phát minh ra điều gì mới hoàn toàn, chúng phải bắt nguồn từ khối tri thức tích lũy lâu đời của khoa học xã hội. Bám rễ từ khối tri thức ấy, mỗi nghiên cứu luật học tất nhiên cần vươn tới những đóng góp thêm, đem đến giá trị tăng thêm, làm nảy nở thêm hoặc đa dạng hóa tri thức về pháp luật. Tính mới trong một nghiên cứu pháp luật có thể được thể hiện trong các dạng nghiên cứu sau đây:
Các nghiên cứu đánh giá hiệu lực thi hành của một đạo luật, dự báo tính khả thi của một đạo luật, thảo luận về thể chế thực thi pháp luật, xem xét quá trình vận dụng pháp luật qua những bản án cụ thể hoặc tại từng địa phương, tất cả những nghiên cứu đó đều có tính cá biệt, và vì vậy góp thêm tri thức mới, góc nhìn mới cho luật học. Các nghiên cứu nhận biết nhu cầu điều chỉnh và kiến nghị lập pháp, giới thiệu giải pháp từ kinh nghiệm pháp luật quốc tế và nước ngoài, tất cả những đề tài đó đều hứa hẹn đóng góp thêm tri thức mới cho khoa học pháp lý trong nước. Trong xu thế nghiên cứu liên ngành, các nghiên cứu áp dụng những học thuyết, lý thuyết của các khoa học xã hội khác, ví dụ phân tích kinh tế đối với pháp luật, từ đó giúp giải thích, đánh giá pháp luật với những góc nhìn, bằng chứng, hoặc bằng những phương pháp mới, tất cả những nghiên cứu đó đều hứa hẹn có tính mới.
d). Bảng kiểm tra tính mới đề tài: Người nghiên cứu có thể kiểm tra tính mới của một đề tài dự kiến thực hiện qua việc trả lời những câu hỏi dưới đây: Đề tài đưa ra nhận định mà trước đó chưa ai đưa ra. Đề tài tìm kiếm lập luận, minh chứng thực nghiệm mà trước đó chưa ai tiến hành. Đề tài tổng hợp và khái quát hóa những kiến thức mà trước đó chưa ai thực hiện. Đề tài dùng tài liệu cũ, song đánh giá và nhận định tài liệu cũ đó theo những góc nhìn mới. Du nhập kinh nghiệm luật pháp của quốc tế hoặc nước ngoài vào VN hoặc địa phương của mình. Đề tài sử dụng một kỹ thuật, phương pháp nghiên cứu mới, vận dụng vào một lĩnh vực pháp luật mới trước đó chưa có ai tiến hành. Đưa ra góc nhìn mới, minh chứng mới, lập luận mới, giải pháp mới về một vấn đề pháp lý đã cũ. Vay mượn ý tưởng, phương pháp của người khác, song nhận định, đánh giá, hoặc áp dụng trong lĩnh vực mới. Sử dụng kiến thức cũ, kiểm chứng chứng trong bối cảnh mới, lĩnh vực mới. Nghiên cứu lĩnh vực pháp luật mới, vấn đề pháp luật mới, thể chế mới mà trước đó chưa ai nghiên cứu.
e). Rà soát tính khả thi của đề tài: Song song với quá trình khảo cứu và xem xét lại tài liệu, người nghiên cứu cần rà soát tính khả thi của đề tài nghiên cứu. Bảng dưới đây có thể giúp người nghiên cứu trả lời về tính khả thi của đề tài nghiên cứu.
Nguồn: Phạm Duy Nghĩa.